Xóm câu mùa nước nổi

Như cánh chim phiêu bạt gặp nhau mùa di trú, trên những cánh đồng mênh mông mùa nước nổi của châu thổ Cửu Long Giang hiện nay, rất nhiều những chiếc ghe làm nghề câu nhỏ bé neo lại gần nhau, tụm lại thành những xóm nho nhỏ.

Từ xa nhìn lại, đó chỉ là những chiếc ghe mỏng manh nhưng trên đó là vô vàn những cảnh đời, những số phận và đặc biệt hơn, là ẩn chứa một phần lịch sử của vùng đất này ở một thời chưa quá xa.

Những phận người lưu lạc

Với những người dân lâu năm vùng đồng bằng châu thổ, những xóm câu ven sông ngòi, kênh rạch là hình ảnh rất đỗi bình thường, quen thuộc. Chúng có từ xa xưa, hàng trăm năm nay. Họ đơn giản chỉ là người mưu sinh bằng nghề sông nước, như những cư dân thương hồ của vùng đất này. Chỉ có điều, khác với các ghe thương hồ luôn luôn di chuyển đơn độc trên sông, những ghe câu thường neo lại với nhau, ở một vùng nước cố định nào đó. Nhưng đó là chuyện của những năm tháng trước. Bây giờ, những ghe câu, xóm câu vì mưu sinh cũng thường phải di chuyển, kiếm tìm sinh kế bởi nguồn lợi thủy sản không còn dồi dào như trước.

Những ngày lang thang miền biên viễn, chúng tôi bắt gặp rất nhiều những xóm câu nho nhỏ như thế. Có xóm vài ba ghe, có xóm tới cả chục ghe cùng tụ lại, neo buộc vào nhau. Ông Nguyễn Văn Sông, chủ một ghe của một xóm câu trên cánh đồng ở Tân Hộ Cơ (Tân Hồng, Đồng Tháp) cười bảo, hầu hết những ghe này là của những ngư dân nghèo, chuyên làm nghề sông nước. “Ngày xưa sông nước kiếm sống dễ dàng, nhất là vào mùa nước nổi nên người ta chẳng cần đi xa, chỉ loanh quanh ở nhà cũng kiếm bộn sản vật. Bây giờ thì khác, do người đông hơn mà sản vật lại ít đi.

Thế nên, nhiều người dân ở dưới Tràm Chim, Tam Nông hay tận Sa Đéc, Long Xuyên… làm nghề câu cũng ngược lên miền biên giới mùa nước nổi. Bây giờ sản vật chỉ ở vùng biên giới mới dồi dào, trù phú chứ khi dòng nước chảy về dưới xuôi thì đã ít đi nhiều. Đó cũng là lý do khiến vùng biên giới có nhiều ghe thuyền câu. Họ đi rồi tụ lại, thành các xóm nho nhỏ để tiện nương náu, giúp đỡ nhau trong mùa nước. Như gia đình tôi, ở mãi tận dưới Hồng Ngự nhưng gần tháng trước, tôi một mình giong ghe lên đây. Nhớ nghề câu quá không chịu được thì mình đi chứ con cái chúng nó cũng ngăn lắm”, ông tâm sự.

Theo lão nông hơn 70 tuổi này, từ nhỏ ông đã làm nghề câu trên sông Tiền nên mỗi khi mùa nước nổi tràn về, ông lại mang đồ nghề, là các bộ lưỡi câu ra thả. Những con trê, con lóc, lăng hay mè vinh, cá ngát đã là một phần của cuộc đời ông rồi. Mấy năm gần đây, phần vì tuổi già, phần vì con cái làm ăn khá giả, chúng không cho ông đi giăng câu nữa. Thế nhưng vì nhớ, và có hẹn với mấy người bạn câu, nên ông sửa ghe, uốn lưỡi, ngược lên tuốt mạn biên giới này. Ông bảo bọn trẻ chúng lo xa, chứ mấy chục năm sống trên sông, ông bơi giỏi như cá, chẳng có gì phải lo cả. Mà đến cái tuổi của ông, cũng không có gì phải lo lắng nữa, ngay cả những bất trắc của cuộc đời.

Nhưng những xóm câu nơi thượng nguồn biên giới không chỉ có những mảnh đời ám ảnh sông nước như ông Sông mà còn nhiều những mảnh đời nghèo khó khác. Với họ, giăng câu mùa nước nổi là sinh kế hiếm hoi cuối cùng có thể kiếm được chút tiền kha khá. Họ hầu hết là những cư dân thương hồ từng nhiều năm sinh sống ở vùng Biển Hồ (Campuchia), quay về Việt Nam rồi sống rải rác nhiều nơi ở vùng biên giới phía Tây Nam.

Thói quen sống bám vào sông nước và mùa nước nổi đã mang những gia đình này lên ghe, tụ lại thành các xóm câu. Những người này kể với tôi rằng, giăng câu là bản năng sinh tồn của họ. Đây là nghề họ rành rẽ, thành thạo nhất. Đó cũng là lý do những gia đình thường tìm tới những vùng nước khác nhau ở vùng thượng nguồn xa xôi này.

Sinh kế mong manh

So với nhiều nghề khác như dỡ chà, đóng dớn, thả lọp… thì giăng câu thường được coi là nghề “sang chảnh” trong những nghề sông nước. Lý do bởi sản phẩm nghề câu thường có tính chọn lọc cao, với những chú cá to nhất. Với những tay câu lành nghề, những chú cá lóc, cá trê, cá tra ba bốn ký lô, thậm chí năm bảy ký lô dính câu là chuyện bình thường. Nó khác với đóng dớn, tuy nhiều nhưng lại là cá tạp, cá vụn. Tuy nhiên, theo thời gian, những thợ câu lành nghề cũng không còn giữ được thói quen trên bởi nguồn lợi thủy sản không nhiều như trước. Đó là lý do khiến ở nhiều xóm câu, tôi thấy những người dân này vẫn đi đặt lọp, đóng dớn để kiếm thêm sinh kế.

Chủ một chiếc ghe như thế, chị Phận, 42 tuổi ở xóm câu nằm ngay bên cánh đồng gần kênh T7 ở Khánh Hưng (Vĩnh Hưng, Long An) nhìn chúng tôi kể, trước gia đình ở dưới thị xã Kiến Tường, ven bờ sông Vàm Cỏ Tây nhưng mùa nước nổi tràn về, cả nhà quyết định ngược lên mạn giáp biên giới để kiếm thêm sinh kế.

“Từ sáng sớm, chồng tôi với thằng con trai lớn đã ngược lên Long Khốt, Thái Trị… để đặt lọp, thả câu rồi. Còn tôi với ba đứa nhỏ thì quanh quẩn ở đây hái sen, hái bông súng với hẹ nước. Cũng may mùa nước nổi bây giờ cái gì kiếm được bán cũng có giá. Có ngày nhiều kiếm sáu, bảy ký cá với mấy rổ bông được hơn sáu trăm ngàn. Ngày ít cũng được hai ba trăm. Từ nay tới tháng mười một hết mùa nước, cố kiếm mấy triệu để làm vốn chứ về dưới Kiến Tường, Mộc Hóa thì lại phải đi bán vé số, nghề sông nước không đủ”, chị kể.

Cũng theo người phụ nữ này do những ghe ở xóm câu thường nằm sâu trong những bưng đồng biên giới nên sản phẩm của họ không phải lúc nào cũng có thương lái tới mua ngay. Những con cá câu được, chị thường thả trong vó để vài ba ngày có người tới lấy một lần.

Xóm câu mùa nước nổi

Mùa nước nổi.

Không hiểu sao, khi đứng trên cầu số 8  của tuyến đường độc đạo từ thị trấn Vĩnh Hưng dẫn về cửa khẩu Khánh Hưng, nhìn xóm câu với gần chục chiếc ghe bập bềnh trên đồng nước dưới ánh hoàng hôn sầm sậm biên giới mà tôi bỗng nôn nao trong lòng. Vài bộ quần áo trẻ con nhàu nhĩ buộc túm trên cọc tràm bay phơ phất. Những đồng nước nổi biên giới càng mênh mông, càng tràn trề bao nhiêu thì dường như những xóm câu càng nhỏ nhoi, cô độc bấy nhiêu. Vẫn biết, với những ghe câu, được neo lại những đồng nước rộng lớn là niềm vui của họ mà tôi mà vẫn khắc khoải, không yên. Hình ảnh đó, gần như trái ngược với những dãy nhà vượt lũ thuộc Chương trình Quốc gia mà Chính phủ xây dựng hơn chục năm qua ở dải đất này. Nghĩa là, với những cư dân nơi đây, có được căn nhà mùa nước nổi là niềm hạnh phúc nhưng được sống trên ghe, làm những nghề của mùa nước giữa những cánh đồng cũng là thứ không dễ gì dứt bỏ được.

Thực ra mùa nước nổi không tạo ra những xóm câu mà chỉ là tái hiện lại hình ảnh của một thời gian chưa quá xa xôi trên vùng châu thổ này. Ngày ấy, cách đây chừng ba chục năm thôi, những người làm nghề câu ở miệt đồng bằng này quanh năm suốt tháng có thể gắn bó với nghề. Mùa khô thì ra các dòng sông lớn như sông Tiền, sông Hậu, Vàm Cỏ Tây hay Sở Thượng, Sở Hạ còn mùa nước về thì thả lưỡi nơi nào cũng có cá. Bây giờ, sau nhiều biến động của cả thiên nhiên lẫn con người tạo ra, không gian giăng câu của những thợ câu đã bị giảm đi. Và nó chỉ hiện ra khi mùa nước tràn về, trùm phủ khắp các bưng đông. Thời gian khác, đồng đất ở đây được cải tạo, chủ yếu trồng lúa, nuôi cá, cấy sen nên rất khó để những ghe câu có thể duy trì sinh kế chứ đừng nói tụ lại thành xóm câu.

Nhưng những xóm câu này không ở lâu một địa điểm nhất định, dù họ thường neo ghe lại gần nhau, ở những địa điểm nào đó. Đến khi hết nguồn lợi, họ lại tháo neo, dời ghe đi nơi khác. Và có thể ở một cánh đồng biên giới khác, họ lại gặp gỡ vài bạn câu của mình, để tụ thành một xóm câu khác. Một xóm câu nhỏ bé, mong manh nhưng lại là thói quen bên chặt, mãi mãi như những mùa nước nổi vùng thượng nguồn châu thổ nơi đây.

Trả lời

Bạn quên chưa bình luận kìa!
Xin vui lòng cho biết tên của bạn