Ứng phó hạn mặn: Chờ từ xa hay chủ động tại chỗ?

Hạn mặn gay gắt ở ĐBSCL bức thiết đặt ra một chiến lược ứng phó thích hợp để đảm bảo vùng nông nghiệp trọng điểm quốc gia phát triển bền vững.

Hiện nay, nhiều kênh rạch ở ĐBSCL đã cạn khô.
Hiện nay, nhiều kênh rạch ở ĐBSCL đã cạn khô.

Hôm 26/3, nguyên Thứ trưởng Bộ NN- PTNT, GS.TS Vũ Trọng Hồng phát biểu trên báo chí, cho rằng: “Chiến lược ngọt hóa dài hạn cần phải tính đến chuyện chuyển nước từ miền Đông sang miền Tây bằng các đường dẫn nước, đồng thời phải xây dựng các hồ trữ nước ngọt đạt chuẩn”. 

Chuyển nước từ miền Đông

GS.TS Vũ Trọng Hồng cho rằng: “Mỗi năm, cả nước cần tới hơn 500 tỷ m3 nước ngọt. Nguồn nước trong nước chỉ đáp ứng được 300 tỷ m3 tính theo lượng mưa và phân bổ trên tất cả các hồ, sông, suối…

Tuy nhiên, điểm khó của ĐBSCL là nơi đây không có nhiều hồ chứa để dẫn nước về. Vì thế, chiến lược ngọt hóa dài hạn cần phải tính đến chuyển nước từ miền Đông sang miền Tây bằng các đường dẫn nước, xây dựng các hồ trữ nước ngọt đạt chuẩn. Như vậy mới là ngọt hóa đúng nghĩa”.

Theo ông Hồng, chiến lược ngọt hóa đã có từ năm 1996 nhưng chưa được thực hiện do quan điểm cho rằng không cần ngọt hóa, cứ để nông dân làm, lấy nước ngầm lên tưới.

Tuy nhiên, do người dân trồng trái vụ, trái loại giống và trái đất nhiều quá- đem na, sầu riêng Thái Lan về trồng trái mùa, lúa đông xuân làm vụ muộn…, lại khoét nước tưới nên cây bị hai tầng- tầng trên không có nước để tưới, tầng dưới thì hút mặn lên.

Bởi vậy, cả trăm nghìn héc ta cây ăn trái bị ảnh hưởng không phải hoàn toàn do thiếu nước mà bị mặn hút lên, cái mặn ấy do người dân hút nước nhiều quá làm tầng nước ngọt bị mất đi. 

Điểm này, theo GS.TS Hồng, có lỗi của cơ quan quản lý nhà nước về thủy lợi, thủy văn ở địa phương không thông báo, tuyên truyền đầy đủ cho người dân.

Mặt khác, theo quy luật sức hút giữa mặt trăng và trái đất, vào những thời kỳ khi mặt trăng gần trái đất, thủy triều sẽ dâng cao hơn, tiến sâu vào đất liền.

Chúng ta phải trồng rừng ngập mặn là để cản dòng chảy tiến vào. Tuy nhiên, thời gian qua, rừng ngập mặn bị phá đi khiến nước mặn tiến sâu vào đất liền hơn.

Một điểm khác, theo ông Hồng, đây là sai lầm lớn khi bỏ đi chỗ chứa nước. Trước đây, khi có Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên chứa nước, nó đẩy nước mặn ra nên vào mùa nước mặn, ĐBSCL không gặp vấn đề gì.

Trước tình hình hạn mặn nghiêm trọng, GS.TS Vũ Trọng Hồng cho rằng không thể chần chừ chương trình ngọt hóa được nữa. Các nước tính ra mất cả trăm năm mới dẫn được nước, như Trung Quốc dẫn nước từ phía nam lên phía bắc, làm suốt mấy chục năm vẫn chưa xong.

“Hỗ trợ tiền, cứu trợ nước ngọt là không đủ. ĐBSCL có hàng loạt hệ thống thủy lợi lớn nhưng tỉnh nào biết tỉnh ấy, phải nối các kênh tưới nước từ tỉnh nọ sang tỉnh kia. Trong khi chờ đợi chiến lược ngọt hóa lâu dài thì phải nối bằng các công trình tạm, có thể là các đường ốp tôn để đưa nước ngọt tới cho người dân. 

Muốn vậy, phải có cơ sở dữ liệu tính toán thủy văn, thổ nhưỡng chịu được mặn bao nhiêu, nguồn nước ngọt có bao nhiêu…, từ đó tính toán đường dẫn, nghiên cứu giống cây chịu mặn… Phải có người tiên phong.

Mỗi hệ thống phải có một công trình mẫu do một doanh nghiệp làm theo công nghệ 4.0 và có sự hỗ trợ của Chính phủ. Khi thử nghiệm mới có số liệu để đưa ra lời khuyên cho cả vùng đó dùng nước thế nào”, GS.TS Hồng nói.

Nước xa không cứu được lửa gần

Mùa lũ nhiều đoạn sông Mê Kông vẫn mênh mông nước ngọt, nhưng không trữ lại được.
Mùa lũ nhiều đoạn sông Mê Kông vẫn mênh mông nước ngọt, nhưng không trữ lại được.

Phản bác lại, TS Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi Miền Nam cho rằng: “nước xa không cứu được lửa gần”.

Ông Trường phân tích: “Đề xuất của GS.TS Vũ Trọng Hồng chuyển nước từ miền Đông sang miền Tây để cứu ĐBSCL khắc phục tình trạng hạn, kiệt, mặn là viển vông, không thực tế.

Minh chứng ngày 28/3/2020 lưu lượng chảy xuống hạ lưu của Trị An là 70m3/s và của Srok Phú Miềng là 56,7m3/s.

Bên Dầu Tiếng không xả xuống sông. Lưu lượng Srok Phú Miềng về tới Phước Hòa dù có xả toàn bộ xuống sông Bé thì tại ngã ba Trị An tổng cộng cũng chỉ có 126,7m3/s.

Trong khi đó lưu lượng chảy về tại Tân Châu + Châu Đốc, chỉ tính lưu lượng nước ngọt từ thượng lưu chảy về, lớn hơn con số trên cả vài chục lần. Lưu lượng Tân Châu + Châu Đốc không đủ chống xâm nhập mặn thì chuyển thêm một lượng nước chút xíu liệu có ích gì hay là lại tạo ra một thảm họa thiếu nước cho miền Đông vì ngay TP.HCM cũng nhiều lúc phải yêu cầu hồ Trị An và Dầu Tiếng xả nước đẩy mặn cho việc cấp nước sinh hoạt của người dân”.

Về ý kiến cho rằng trước đây, khi có Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên chứa nước, nó đẩy nước mặn ra nên vào mùa nước mặn, ĐBSCL không gặp vấn đề gì thì TS Trường cho là không thực tế.

Theo phân tích của TS Trường, chế độ khí hậu ĐBSCL là chế độ khí hậu gió mùa nhiệt đới gần xích đạo, có mùa khô, hạn, kiệt trùng với hoàn lưu gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 hoặc tháng 5 năm sau (tùy từng năm).

Mùa mưa, lũ lụt trùng với hoàn lưu gió mùa Tây Nam kéo dài từ tháng 6 đến tháng 11. Mùa khô, hạn, kiệt, mặn ĐBSCL tương phản cực kỳ sâu sắc với mùa mưa, lũ, lụt.

Mùa lũ trong các vùng trũng như Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười ngập lụt sâu, kéo dài ngày, vì vậy vào mùa mưa lũ nơi đây nhân dân ta có câu “chó không có chỗ mà nằm”.

Liền ngay sau đó, vào mùa khô, nước trong các vùng ngập lụt rút nhanh dồn hết vào sông, kênh rạch, tiếp tục rút nhanh dần ra biển theo quy luật thủy văn sông Mê Kông và đạt mức thấp nhất năm vào tháng 3 hoặc tháng 4 (tùy từng năm), làm cho các vùng ngập lụt ĐBSCL như Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên (mà nhiều người ở xa lầm nghĩ rằng đó là những hồ chứa nước) đã trơ đáy khô nứt nẻ suốt liên tục trong các tháng 2 và 3, có năm kéo dài tới tháng 4 đầu tháng 5, lấy đâu ra nước để đẩy mặn cho ĐBSCL?

Lược lại lịch sử phát triển thủy lợi ở ĐBSCL từ thời cụ Thoại Ngọc Hầu cho tới nay đã trên 200 năm, TS Trường nhấn mạnh: “Muốn ngọt hóa, phải xây dựng hệ thống cống điều khiển dòng mặn, ngọt thích hợp cả đầu ra và đầu vào trên hệ thống kênh trục, sông nhánh phụ, sông cụt,.. biến lòng dẫn của chúng thành hệ thống hồ chứa nước hoạt động lưu động theo thời gian và nhịp điệu của từng con triều để bẫy triều, kiểm soát mặn, tích ngọt.

Hệ thống này chỉ hoạt động lúc cao điểm mùa khô nói trên, mùa mưa mở toang hết các cửa cống điều khiển cả đầu ra và đầu vào trở lại thông thương bình thường.

Tiềm năng trữ nước trên toàn vùng ĐBSCL ứng với lúc lũ đạt đỉnh đối với năm nhiều nước (2000), năm trung bình nước (2004) và năm ít nước (2016) dao động trong khoảng từ 5-23 tỷ m3.

Còn ngay đầu mùa khô thì khả năng chứa nước thực tế trên đồng ruộng kênh rạch của vùng ĐBSCL dao động trong khoảng 2,5-3,8 tỷ m3.

Riêng vùng Đồng Tháp Mười khoảng 700 triệu – 1,1 tỷ m3; vùng Tứ giác Long Xuyên khoảng 590-740 triệu m3 … Ý tưởng chuyển nước từ Miền Đông sang Miền Tây để cứu ĐBSCL thực ra đã phạm phải phải một câu tối kỵ trong binh pháp: “Nước xa không cứu được lửa gần”.

Trả lời

Bạn quên chưa bình luận kìa!
Xin vui lòng cho biết tên của bạn