Đảm bảo an toàn hệ thống đê điều trước diễn biến thiên tai bất thường

Trong hai thập kỷ trở lại đây, thiên tai xảy ra ngày một khốc liệt và khó lường, phá vỡ quy luật ở nhiều khu vực trên thế giới, làm cho công tác phòng tránh thiên tai ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam gặp nhiều khó khăn, gây thiệt hại nặng nề về người, tài sản và cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

Nguy cơ mất an toàn hệ thống đê điều

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai nhận định: Thiên tai ngày một bất thường, khắc nghiệt và cực đoan. Bão to, lũ lớn có thể xảy ra bất cứ lúc nào và không theo quy luật tự nhiên, gây khó khăn lớn trong công tác dự báo, cảnh báo thiên tai, cũng như công tác chủ động đối phó của các cấp, ngành, địa phương. Mặt khác, từ thực trạng hệ thống đê điều và diễn biến thiên tai bất thường đã “hiện hữu” nguy cơ mất an toàn đê điều.

Theo Tổng cục Phòng chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thiệt hại về kinh tế do thiên tai gây ra những năm gần đây tại Việt Nam rất nặng nề, ước tính từ 1 – 1,5% GDP hàng năm, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Riêng 6 tháng đầu năm 2018, thiên tai đã làm 175 người chết và mất tích, thiệt hại ước tính lên đến 12.000 tỷ đồng. Điển hình, cơn bão số 7 năm 2005 với sức gió cấp 12 đổ bộ vào khu vực Bắc Bộ đã làm vỡ hàng loạt tuyến đê biển từ Hải Phòng đến Thanh Hóa. Cơn bão số 10 năm 2017 làm chết 6 người, đổ sập 3.200 căn nhà và gần 200 nghìn nhà bị hư hỏng, thiệt hại khoảng 18.402 tỷ đồng; nước dâng, sóng lớn do bão gây ra làm hư hỏng nặng các tuyến đê biển từ Hải Phòng đến Thừa Thiên – Huế. Cũng trong năm 2017, cơn bão số 12 làm 123 người chết và mất tích, 3.550 căn nhà bị đổ sập, gần 300.000 căn nhà bị hư hỏng và 73.444 lồng bè nuôi trồng thủy sản bị phá hỏng… thiệt hại ước tính khoảng 23.000 tỷ đồng. Năm 2017 cũng xảy ra các đợt lũ lớn trên hệ thống sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Mã, có nơi mực nước vượt mực nước lũ lịch sử đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tuyến đê sông.

Ông Phạm Đức Luận, Vụ trưởng Vụ Quản lý đê điều, Tổng cục Phòng chống thiên tai cho biết: Hệ thống đê điều nước ta có quy mô rất lớn, tổng chiều dài khoảng 9.300 km, trong đó có 6.400 km đê sông và gần 2.900 km đê biển. Trên các tuyến đê có 2.700 km đê được phân cấp từ cấp III đến cấp đặc biệt. Đây là các tuyến đê bảo vệ các khu vực có dân cư tập trung đông và nhiều công trình hạ tầng quan trọng của đất nước. Hệ thống đê điều được khép kín và khá đồng bộ, song các tuyến đê chủ yếu được đắp bằng đất, dưới tác động của mưa, lũ, sóng to, gió lớn và bão, nên thường xuyên bị hư hỏng, xuống cấp nhanh, khó đảm bảo an toàn. Cụ thể, năm 2017 xảy ra 426 sự cố đê điều. Từ đầu năm 2018 đến nay, đã xảy ra 116 sự cố, trong đó có nhiều sự cố nguy hiểm, nguy cơ vỡ đê là hiện hữu. Nếu xảy ra vỡ đê, nhất là hệ thống đê sông Hồng đang bảo vệ 15.000 km 2, với số dân 20,2 triệu người, tại khu vực trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng là Thủ đô Hà Nội… sẽ gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng.

Cán bộ Ban chỉ huy phòng chống thiên tại huyện Chương Mỹ kiểm tra để đưa ra phương án xử lý khẩn cấp sự cố sạt lở, xói chân đê hữu Bùi đoạn chạy qua xã Hoàng Văn Thụ ngày 16/8. Ảnh: Mạnh Khánh/TTXVN

Những năm qua, hệ thống đê điều đã được đầu tư kinh phí tu bổ, sửa chữa và nâng cấp, song do chiều dài đê lớn, nguồn kinh phí đầu tư còn hạn chế nên hiện tại còn nhiều đoạn đê, tuyến đê chưa đảm bảo an toàn trước thiên tai ngày một cực đoan và khốc liệt. Đến thời điểm này, vẫn còn 244 km đê từ cấp III đến cấp đặc biệt thiếu cao trình, có khả năng bị tràn khi gặp lũ lớn; 726 km đê nhỏ, hẹp, chưa đủ yêu cầu so với thiết kế; hơn 12 km đê thường xuyên xảy ra mạch đùn, mạch sủi; 66 km bị thẩm lậu, rò rỉ chưa được xử lý; 93 cống dưới đê hư hỏng nặng cần xây dựng lại; 355 cống cần sửa chữa; 220 km kè bị hư hỏng, sạt lở và còn 239 vị trí trọng điểm xung yếu cần xây dựng phương án bảo vệ.

“Trong 16 năm qua, kể từ sau trận lũ năm 2002, trên hệ thống sông Hồng chưa xảy ra lũ lớn và các công trình hồ chứa thủy điện lớn phía thượng lưu điều tiết lũ, đã “xuất hiện” tư tưởng chủ quan trong nhân dân cũng như lãnh đạo các cấp, các ngành. Điều này làm công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng gặp lúng túng vì thiếu kinh nghiệm trong trường hợp thực tế khi xảy ra lũ lớn, các công trình hồ chứa thượng lưu không còn khả năng cắt lũ, thậm chí phải xả lũ để đảm bảo an toàn công trình”, Vụ trưởng Vụ Quản lý đê điều Phạm Đức Luận nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, công tác hộ đê chống lũ, vật tư dự phòng cho công tác hộ đê như đá hộc, đá dăm, cát, sỏi, rọ thép, bao tải, đất, rong rào… đều thiếu về số lượng và chủng loại. Nhiều chủng loại vật tư không còn phù hợp với trình độ khoa học công nghệ, điều kiện thi công cơ giới hiện nay cần được quan tâm xử lý. Nếu không chủ động xử lý những tồn tại này thì việc phòng tránh thiên tai không đạt hiệu quả

Trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và nhân dân     

Trước thực trạng còn nhiều tuyến đê, đoạn đê xung yếu, để đảm bảo an toàn hệ thống đê điều, hàng năm trước mùa mưa, bão, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đều có văn bản hướng dẫn các địa phương rà soát, đánh giá thực trạng hệ thống đê điều, xác định các trọng điểm xung yếu; đồng thời xây dựng, phê duyệt và triển khai phương án hộ đê, bảo vệ trên thực tế, đảm bảo sẵn sàng theo phương châm 4 tại chỗ (vật tư, lực lượng, chỉ huy và hậu cần). Đây là phương án và giải pháp thiết thực, hiệu quả trong phòng chống lũ đã được khẳng định trong nhiều năm qua.

Xây kè khắc phục khẩn cấp sạt lở bờ sông Bồ đoạn qua phường Hương Vân, thị xã Hương Trà (Thừa Thiên – Huế). Ảnh: Hồ Cầu/TTXVN

Ủy viên thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, Tổng Cục trưởng Tổng cục Phòng chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trần Quang Hoài đề nghị các địa phương, các cấp, ngành khắc phục những tồn tại, yếu kém trong công tác hộ đê, phòng chống lụt bão trước hiểm họa thiên tai ngày một khắc nghiệt, khó lường; tăng cường đầu tư củng cố, tu bổ đê điều, xóa dần các trọng điểm xung yếu, không để xảy ra vỡ đê đột ngột, từng bước nâng cấp hệ thống đê theo yêu cầu phòng, chống lũ, bão để đảm bảo an toàn hệ thống đê điều. Đồng thời, cần chủ động khắc phục các yếu kém, khiếm khuyết, đặc biệt tránh tư tưởng chủ quan, lơ là trước các hiểm họa thiên tai.

Công tác tuyên truyền cần được đẩy mạnh nhằm nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan thông tấn, báo chí và nhân dân, nhất là lực lượng quản lý đê điều và phòng chống thiên tai. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo mưa, lũ để chủ động trong công tác chỉ đạo vận hành hệ thống hồ chứa cắt lũ, đảm bảo an toàn đê điều vùng hạ du. Các nhà máy thủy điện lớn phải đảm bảo an toàn công trình hồ chứa, hài hòa giữa lợi ích phát điện với việc cắt lũ, xả lũ, thực hiện nghiêm ý kiến chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai khi xảy ra các đợt mưa, lũ lớn. Công tác kiểm tra cần được tăng cường trên các tuyến đê kè, lòng sông, bãi sông để phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời việc lấn chiếm không gian thoát lũ, chứa lũ, bảo đảm an toàn hệ thống đê điều…

Hệ thống đê điều không chỉ là những tuyến giao thông kết nối các địa phương, khu vực, mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác phòng chống thiên tai, bão, lụt, bảo vệ tính mạng, tài sản nhà nước và nhân dân cũng như thành quả đạt được trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Do vậy, để đảm bảo an toàn hệ thống đê điều, tránh xảy ra hiểm họa vỡ đê bất ngờ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và nhân dân.

Trả lời

Bạn quên chưa bình luận kìa!
Xin vui lòng cho biết tên của bạn