Sông Mê Kông ‘trơ đáy’, ĐBSCL lo hạn mặn khốc liệt: Sống chung với ‘nước kém’

Nước sông Mê Kông ở thượng nguồn xuống thấp lịch sử ngay trong mùa mưa đã đặt hạ nguồn ĐBSCL trước một bối cảnh mới, sống chung với nước kém thay vì “sống chung với lũ” như trong quá khứ.

TS Dương Văn Ni, Khoa Môi trường – Tài nguyên thiên nhiên (Trường ĐH Cần Thơ), cho biết ngay tại ĐSBCL có 2 vùng trữ lũ rất lớn là Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, được xem là 2 túi nước điều hòa cho đồng bằng.

Mô hình trồng sen nuôi cá kết hợp với du lịch vào mùa lũ ở H.Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp


“Nhưng nhiều năm trước, do chạy theo sản lượng lúa, chúng ta đã đắp rất nhiều đê bao để ngăn không cho nước lũ tràn vào khu vực này, để tăng diện tích canh tác lúa vào mùa lũ lên. Cái đó làm cho không gian trữ nước của đồng bằng bị thu hẹp, lượng nước ngọt không giữ lại được, mùa hạn đến thì lượng nước tại chỗ không còn đủ để bổ sung cho sông Hậu, sông Tiền đẩy bớt nước mặn ra biển. Và càng vào mùa khô hạn thì xâm nhập mặn càng sâu vào nội đồng”, ông Ni nói.

Không ngọt hóa để trồng lúa
Th.S Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về sinh thái Mê Kông, nói thẳng: “Kinh nghiệm như năm 2016 cho thấy thì ít có biện pháp nào để đối phó với những năm khô hạn cực đoan. Dù có công trình cống đập ngăn mặn thì cũng không có tác dụng ngăn mặn vì bên trong không đủ nước thì ngăn mặn vô ích”.

Theo ông Thiện, về lâu dài, để tăng cường sức chống chịu của ĐBSCL thì cần khôi phục không gian của dòng sông, để nước có thể vào lại ruộng đồng phải bắt đầu bằng việc giảm bớt một vụ lúa trong mùa lũ ở Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười. Lũ vào được 2 vùng này không chỉ tích nước điều hòa dòng chảy cho mùa khô mà còn giảm ngập úng cho các đô thị, đường sá vùng hạ lưu, những nơi không có đê bao.
“Chính Nghị quyết 120 của Chính phủ cũng đã chỉ rõ, sản lượng lúa không còn là ưu tiên mà chất lượng mới quan trọng. Còn vùng ven biển thì nên chuyển sang hệ canh tác mặn, không nên cố ngọt hóa để canh tác lúa khắp nơi”, ông Thiện nói.

Theo Báo Thanh Niên