Mùa đông sử dụng ngải cứu cần biết những điều này để tốt cho sức khỏe

KTT – Theo Đông y, ngải cứu vị đắng, cay, tính ấm, vào kinh tỳ, can, thận, có tác dụng ôn bào cung, cầm máu, an thai, khứ hàn, giảm đau. Tuy nhiên, vì dược tính cao nên ngải cứu cũng có nhiều tác dụng phụ nên không phải ai cũng sử dụng được loại lá này.

Ngải cứu còn có tên thuốc cứu, ngải diệp, nhả ngải… là một loài thực vật thuộc họ Cúc.

Ngải cứu là cây thân thảo, sống lâu năm, lá mọc so le, chẻ lông chim, phiến men theo cuống đến tận gốc, dính vào thân như có bẹ, các thùy hình mác hẹp, đầu nhọn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới phủ đầy lông nhung màu trắng. Những lá ở ngọn có hoa không chẻ.

Cây ngải cứu ưa ẩm, dễ trồng bằng cách giâm cành hay cây con.

Lá ngải cứu chứa tinh dầu, các flavonoid, các acid amin như adenin, cholin.

Theo Đông y, ngải cứu vị đắng, cay, tính ấm, vào kinh tỳ, can, thận, có tác dụng ôn bào cung, cầm máu, an thai, khứ hàn, giảm đau. Cụ thể:

Cầm máu: phụ nữ kinh nguyệt không đều, có thai ra huyết, thổ huyết, chảy máu cam, đái ra máu.

Giảm đau nhức.

Sát trùng, kháng khuẩn: ghẻ lở, trị viêm da, dị ứng, viêm gan, trừ giun nhờ tinh dầu có tính kháng khuẩn cao.

Điều hòa khí huyết, đau kinh, ôn kinh, an thai.

Đau bụng do lạnh, nôn mửa, kiết lỵ.

Bạch đới, phong thấp, hàn thấp.

Lợi tiểu.

Ngải cứu có hoạt chất diệt và đuổi côn trùng.

Nếu phơi khô, vò nát thành ngải nhung, được dùng trong “cứu pháp” của châm cứu.

Tuy nhiên, vì dược tính cao nên ngải cứu cũng có nhiều tác dụng phụ. Với một số người, nếu dùng ngải cứu quá nhiều có thể gây ra ngộ độc, thần kinh trung ương bị hưng phấn quá mức dẫn tới chân tay run giật cục bộ hoặc co giật. Sau vài lần có thể dẫn đến co cứng, nói sàm, thậm chí tê liệt, có tổn thương ở tế bào não… và di chứng là hay quên, ảo giác, viêm thần kinh…

Ngải cứu vị đắng, cay, tính ấm, vào kinh tỳ, can, thận, có tác dụng ôn bào cung, cầm máu, an thai, khứ hàn, giảm đau

Để phát huy công dụng và tránh tác dụng phụ của ngải cứu, theo các chuyên gia, người bình thường chỉ nên ăn ngải cứu từ 1-2 lần/tuần. Đối với người không có bệnh, không nên sử dụng nước sắc ngải cứu, như một thứ nước uống thường xuyên giống như nước trà.

Nếu sắc ngải cứu để uống thay nước chỉ nên sử dụng khoảng 3-5g khô (9-15g tươi)/lần và sử dụng theo từng đợt. Khi khỏi bệnh thì nên nghỉ, tránh sử dụng liên tục trong thời gian dài.

Bên cạnh đó, khi sử dụng ngải cứu để ngâm chân giúp thúc đẩy tuần hoàn máu, giảm chứng co thắt cơ bắp cũng không nên ngâm chân quá lâu, tốt nhất chỉ nên là 15 – 30 phút. Khi ngâm chân, máu sẽ chảy về chân nhiều hơn, vì thế có thể bị thiếu máu não, gây chóng mặt, nhức đầu. Người thiếu máu nên cẩn thận đề phòng bằng cách thử từng ít một trước khi tiến hành liệu trình ngâm.

Ngâm chân ngải cứu có hiệu quả tốt, nhưng không phải thích hợp với tất cả mọi người. Phụ nữ bị hành kinh nhiều thì không ngâm trong kỳ kinh nguyệt. Bệnh nhân tiểu đường hoặc người ngâm xong bị sốt thì không nên áp dụng cách này.

Những người có dấu hiệu sau đây không nên dùng ngải cứu:

Phụ nữ mang thai

Phụ nữ mang thai 3 tháng đầu thai kỳ không nên dùng bất kỳ dược liệu nào, đặc biệt là ngải cứu. Với một số trường hợp bị động thai có dấu hiệu ra máu, bạn có thể dùng ngải cứu bằng cách sao cháy, sau đó vẩy một chút nước vào cho hết hỏa độc và sắc lên uống. Tuy nhiên, cần phải thận trọng khi uống. Tốt nhất bạn nên đi khám bác sĩ chuyên khoa để được điều trị đúng và kịp thời.

Phụ nữ mang thai 3 tháng đầu không nên dùng bất kỳ dược liệu nào, đặc biệt là ngải cứu

Rối loạn đường ruột cấp tính

Một trong những tác dụng nổi bật của ngải cứu đó là giúp cơ thể tăng việc đi tiểu, vì thể nó được xem là một vị thuốc nhuận tràng hiệu nghiệm. Thế nhưng, chính do tác dụng này mà những người bị rối loạn đường ruột cấp tính cần phải tránh xa ngải cứu, nếu không bệnh tình sẽ khó kiểm soát và ngày một trầm trọng hơn.

Người bị viêm gan

Tinh dầu trong ngải cứu là thành phần có tác dụng chữa bệnh, nhưng cũng là một thành phần có độc tính. Nếu người bị viêm gan ăn ngải cứu, khi đó dược chất đi vào gan sẽ gây ra rối loạn chuyển hóa của tế bào gan, dẫn tới viêm gan cấp tính do trúng độc và viêm gan vàng da, khiến cho gan to, nước tiểu đục, nước tiểu có lẫn dịch mật. Do đó người bị viêm gan nên tránh xa món này.