Kịch bản miền Nam nằm dưới mực nước biển là có thật

Xung quanh công bố của Climate Central về việc miền Nam Việt Nam có thể nằm dưới mực nước biển vào năm 2050, Bộ TN&MT đã lên tiếng phản bác điều này. Climate Central lại đưa ra những luận điểm bảo vệ. Theo các chuyên gia, kịch bản miền Nam có thể nằm dưới mực nước biển là có thật.

Nguy cơ ngập lụt ở các tỉnh phía Nam là có thật
Nguy cơ ngập lụt ở các tỉnh phía Nam là có thật 

Tranh luận qua lại về các kịch bản

Ngày 30/10, Climate Central công bố một nghiên cứu trên chuyên san Nature Communications, theo đó, hàng trăm triệu người trên thế giới có nguy cơ mất nhà do mực nước biển dâng nhấn chìm các thành phố trong vòng 3 thập kỷ nữa.

Mực nước biển toàn cầu được dự báo sẽ tăng khoảng 0,6 – 2,1 m – có thể còn hơn nữa – trong thế kỷ này. Tính toán dựa trên dữ liệu mới nhất và trí tuệ nhân tạo, số cư dân bị ảnh hưởng sẽ tăng gấp 3 so với dự báo trước đây.

Nghiên cứu này dự báo, toàn bộ miền Nam Việt Nam có thể nằm dưới mức đỉnh triều vào năm 2050. Trong đó, phần lớn TPHCM có thể bị ngập. Khu vực có nguy cơ bị ngập lụt hiện là nơi sinh sống của hơn 20 triệu người, tương đương 1/4 dân số Việt Nam.

Ngày 2/11, Bộ TN&MT đã chính thức đưa ra ý kiến phản bác nghiên cứu trên bằng 3 luận điểm. Theo PGS.TS Huỳnh Thị Lan Hương, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (Bộ TN&MT), nghiên cứu của Climate Central sử dụng giả định triều có tần suất 100 năm/lần kết hợp nước biển dâng 2 m. Đây là dự báo quá cực đoan.

Phản biện lại, Climate Central cho rằng, với kịch bản lạc quan nhất của Climate Central: Không tính đến độ bất ổn của các dải băng ở Nam cực và nhân loại đạt nỗ lực giảm phát thải cao nhất (RCP2.6), kết quả cũng không hề khả quan. Hầu hết miền Nam Việt Nam và một phần lớn các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Hồng cũng sẽ bị ngập. Điều này sẽ ảnh hưởng tới khoảng 1/3 dân số Việt Nam đang sống tại các khu vực này.

Nguy cơ là có thật

GS.TS Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi cho biết, thực tế, Đồng bằng sông Cửu Long thấp hơn nhiều so với giả định trước đây trong các đánh giá tác động của mực nước biển. Điều đáng nói là, các nhà khoa học sẽ không bao giờ có thể đưa ra dự đoán chính xác về mực nước biển trong tương lai, nhưng họ có thể biết độ cao chính xác của vùng đất nếu thực hiện được các phép đo phù hợp.

Cần phải hiểu, công bố này đưa ra khả năng miền Nam nằm dưới mực nước biển, không có nghĩa là toàn bộ diện tích của miền Nam sẽ biến mất. Hà Lan là quốc gia nằm dưới mực nước biển, nhưng họ vẫn là một trong những quốc gia phát triển hàng đầu thế giới. Do đó, chúng ta cần phải chuẩn bị các phương án kịch bản xấu nhất để có các biện pháp ứng phó, hơn là cứ tranh cãi xem nghiên cứu của ai mới có cơ sở khoa học.

“Tôi cho rằng không nên phản bác lại nghiên cứu của Climate Central mà nên lắng nghe để tham khảo. Có các biện pháp ứng phó phù hợp cho kịch bản xấu nhất. Việt Nam chưa đủ điều kiện máy móc thiết bị cũng như công nghệ để đánh giá về nước biển dâng. Trong khi nhiều nước họ nghiên cứu rất sâu vấn đề này”, GS.TS Vũ Trọng Hồng cho biết.

GS.TS Lê Huy Bá, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học công nghệ và quản lý môi trường, Trường Đại học Công nghiệp TPHCM cho rằng, cần phải hiểu những dự báo tình trạng ngập chỉ là phác thảo chứ không phải chính xác hoàn toàn và có thể có những sai số và chênh lệch. Tuy nhiên, nước ta đang nằm trong top 5 nước chịu ảnh hưởng lớn nhất từ biến đổi khí hậu, đặc biệt là miền Nam. Những ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu là có thật và đang hiện hữu từng ngày.

Theo GS.TS Lê Huy Bá, một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngập là băng tan hai cực; nước biển dâng; kết hợp với triều cường; gió chướng, mưa lớn và đặc biệt là tình trạng sụt lún nền đất. Bên cạnh đó, Đồng bằng sông Cửu Long có nền đất rất yếu, thậm chí nhiều nơi không có nền. Việc chúng ta xây dựng nhiều công trình, thu hẹp diện tích rừng ngập mặn… dẫn đến tình trạng sụt lún nhanh. Thay vì việc mỗi năm chúng ta lấn ra biển bao nhiêu mét như trước đây, hiện tại chúng ta đang bị biển xâm lấn trở lại.

Sống chung với nước biển dâng

GS.TS Trần Thục, Chủ tịch Hội Khí tượng thủy văn Việt Nam cho rằng, những tranh cãi này rất khó để đưa ra kết luận cuối cùng xem ai đúng, vì tất cả chỉ là những giả thiết mang tính dự báo để có các kịch bản ứng phó chứ không phải là khẳng định chắc chắn sẽ xảy ra.

Thời kỳ đầu khi công bố những ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu, nhiều người không tin và tỏ ra thờ ơ. Tuy nhiên với những dự báo gần đây, nhiều người bắt đầu tỏ ra lo lắng. Lo lắng là đúng vì nhiều khía cạnh của cuộc sống sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp. Khi nước biển dâng, nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải… đều phải thay đổi. Việt Nam chúng ta thậm chí có thể mất đi vựa lúa lớn nhất cả nước là Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo GS.TS Lê Huy Bá, về cách chung sống với nước biển dâng, nhiều nhà khoa học và các hội thảo cũng đã có những nghiên cứu. Thứ nhất, chúng ta phải thích ứng với điều kiện, tất cả mọi thứ sẽ phải thay đổi theo. Ví dụ như nhà cửa, những vùng ngập lụt nước biển dâng chúng ta không thể xây nhà như phương thức cũ được. Cụ thể, muốn sống ở đó chúng ta phải nâng độ cao nhà, xây dựng nhà nổi hoặc chọn địa điểm xây nhà ở nơi ít chịu ảnh hưởng việc nước biển dâng. Thậm chí người dân nên tính đến việc xây nhà cửa để chống gió, chống bão như thế nào.

Giao thông đường thủy có thể sẽ phát triển hơn, giao thông đường bộ sẽ phải nâng lên cao hơn. Đặc biệt về mảng nông nghiệp, để không bị ảnh hưởng, chúng ta phải tìm ra loại lúa có thể chịu ngập, thậm chí chịu mặn được. Nếu không thể trồng trọt thì nhiều hộ có thể phải chuyển qua nuôi thủy sản (nước lợ)…

Còn GS.TS Vũ Trọng Hồng cho rằng cần phải quy hoạch lại khu dân cư ven biển. Không được xây dựng các công trình như khách sạn, nhà nghỉ, resort ngay sát biển để có đường cho phù sa bồi tích. Không được khai thác nước ngầm ven biển tránh tình trạng sụt lún ngày càng nghiêm trọng, hình thành dải hành lang an toàn ven biển để xây dựng hệ thống đê ke, ngăn nước biển dâng…

Kịch bản nước biển dâng cao như công bố mới nhất này chúng ta chưa tính đến, nhưng cần thiết phải có các phương pháp ứng phó. Việc tranh cãi qua lại không đem lại kết quả cuối cùng mà chỉ gây thêm những hoang mang cho người dân. Các cơ quan quản lý cần phải biết lắng nghe và có phương pháp ứng phó cho kịch bản xấu nhất có thể xảy ra.Theo kịch bản ứng phó với biến đổi khí hậu năm 2016 của Bộ TN&MT, đến năm 2100, với khả năng nước biển dâng ở mức cao nhất là 1 m thì khoảng 16,8% diện tích Đồng bằng sông Hồng; 1,47% diện tích các tỉnh ven biển miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận; 17,8% diện tích TPHCM; 38,9% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ bị ngập. Trong đó, cụm đảo Vân Đồn, Côn Đảo và Phú Quốc có nguy cơ ngập cao.